Thực hiện Công văn số 85/CV-LĐLĐ ngày 19/3/2020 của Liên đoàn Lao động tỉnh Phú Thọ “Về việc tham gia cuộc thi Biển, đảo Tổ quốc và truyền thống 65 năm Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng” đoàn viên công đoàn trường mầm non Yên Lãng tham gia cuộc thi với tinh thần nhằm khơi dậy lòng tự hào về truyền thống dân tộc, Quân đội, Quân chủng Hải quân anh hùng, củng cố niềm tin, ý chí quyết tâm của quân và dân ta, huy động mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc trong tỉnh hình mới.

 

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN THI TÌM HIỂU
“BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC VÀ TRUYỀN THỐNG 65 NĂM
HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG”

 

Câu 1: Việt Nam chính thức phê chuẩn tham gia Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 vào năm nào? Luật biển Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày, tháng, năm nào? Luật bao gồm những chương, điều nào?

*Trả lời:

Ngày 27/7/1994, Việt Nam nộp lưu chiểu văn kiện chính thức phê chuẩn tham gia Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 tới Ban Thư ký LHQ, được coi là "Hiến pháp về biển và đại dương”.

Ngày 21/6/2012, Việt Nam đã ban hành Luật Biển nhằm thống nhất quản lý việc hoạch định, sử dụng, thăm dò, khai thác, bảo quản các vùng biển, thềm lục địa và hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng tại một văn bản có giá trị hiệu lực cao. Đây được coi là bước tiến quan trọng trong việc nội luật hóa các quy định của Công ước Luật Biển vào pháp luật Việt Nam, tạo thuận lợi cho Nhà nước Việt Nam quản lý thống nhất về biển và phát triển nền kinh tế biển của Việt Nam, đây cũng là một bằng chứng sống động thể hiện sự cam kết thực tế của Việt Nam đối với việc tôn trọng và thực thi các quy định của Công ước Luật biển 1982.

Đồng thời, Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội Việt Nam cũng một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến vấn đề Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Là thành viên của Công ước Luật biển 1982, Việt Nam được quyền có lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý, đồng thời Việt Nam cũng có những nghĩa vụ đối với các quốc gia khác tại các vùng biển thuộc quyền tài phán của mình.

Để thể hiện trách nhiệm và thiện chí của một quốc gia thành viên của

Công ước Luật Biển năm 1982, trong những năm qua, Việt Nam thực thi đầy đủ các quy định của Công ước, tiến hành sửa đổi, ban hành mới pháp luật Việt Nam phù hợp với các quy định của Công ước.

Luật Biển Việt Nam được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 21/6/2012, chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa được khẳng định từ điều 1 của bộ luật, bộ luật cũng được soạn để phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển.

Luật biển của Việt Nam được thông qua cùng ngày với việc nhà nước Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa bao trùm toàn bộ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương 55 điều có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013.

Chương 1: Gồm các quy định chung về phạm vi điều chỉnh, định nghĩa.

Chương 2: Quy định về vùng biển Việt Nam, trong đó có các quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, đảo, quần đảo...

Chương 3: Quy định về hoạt động trong vùng biển Việt Nam, trong đó có các quy định: Đi qua không gây hại trong lãnh hải, tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại, vùng cấm và khu vực hạn chế hoạt động trong lãnh hải, tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài đến Việt Nam, trách nhiệm của tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam, hoạt động của tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, quyền tài phán hình sự và dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài, quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài...

Chương 4: Dành cho phát triển kinh tế biển, với các điều khoản về nguyên tắc phát triển kinh tế biển, các ngành kinh tế biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển, xây dựng và phát triển kinh tế biển, khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo và hoạt động trên biển.

Chương 5: Quy định về tuần tra, kiểm soát trên biển với các điều khoản

về lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển, nhiệm vụ và phạm vi trách nhiệm tuần

tra, kiểm soát trên biển, màu cờ, sắc phục và phù hiệu.

Chương 6: Quy định về xử lý vi phạm. Chương này bao gồm các điều

khoản về dẫn giải và địa điểm xử lý vi phạm, biện pháp ngăn chặn, thông báo

cho Bộ Ngoại giao và xử lý vi phạm.

Chương 7: Quy định về điều khoản thi hành.

Câu 2: Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) ban hành bao gồm những mục tiêu và các giải

pháp chủ yếu nào?

*Trả lời:

Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 gồm những mục tiêu:

a. Mục tiêu tổng quát:

Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển, hình thành văn hoá sinh thái biển, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển, phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng, những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếpthúc đẩyphát triển bền vững kinh tế biển.

b. Mục tiêu cụ thể:

Các chỉ tiêu tổng hợp: Các chỉ tiêu về quản trị biển và đại dương quản lý vùng bờ chuẩn mực quốc tế đạt mức thuộc nhóm nước trung bình cao trở lên trên thế giới, hầu hết các hoạt động phát triển kinh tế xã hội liên quan đến biển đảo được thực hiện với nguyên tắc quản lý tổng hợp phù hợp với hệ sinh thái biển.

Về kinh tế biển: Các ngành kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước, kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65 - 70% GDP cả nước. Ngành kinh tế biển phát triển bền vững theo các chuẩn mực quốc tế, kiểm soát khai thác tài nguyên biển trong khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển.
Về xã hội: Chỉ số phát triển con người của các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn mức trung bình của cả nước, thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển gấp từ 1,2 lần trở lên so với thu nhập bình quân của cả nước. Các đảo có người dân sinh sống có hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đầy đủ, đặc biệt là điện, nước ngọt, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục...

Về khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển: Tiếp cận, tận dụng tối đa thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến và thuộc nhóm nước dẫn đầu trong ASEAN, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ biển đạt trình độ tiên tiến, hiện đại trên thế giới. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển, hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ biển có năng lực, trình độ cao.
Về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng: Đánh giá được tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng. Tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỉ lệ bản đồ 1: 500.000 và điều tra tỉ lệ lớn ở một số vùng trọng điểm, thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hoá về biển, đảo bảo đảm tính tích hợp chia sẻ và cập nhật,
ngăn ngừa kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển tiên phong trong khu vực về giảm thiểu chất thải nhựa đại dương. Ở các tỉnh, thành phố ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường, 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường. Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo, tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia, phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000. Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần, quan trắc, giám sát môi trường biển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bao gồm cả thông qua việc ứng dụng công nghệ vũ trụ và trí tuệ nhân tạo, đạt trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực, có biện pháp phòng, tránh ngăn chặn hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển.

Tầm nhìn đến năm 2045:

Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng

an ninh, an toàn, kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương.

Về các giải pháp chủ yếu:

Một là: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển, tạo đồng thuận trong toàn xã hội.

Nâng cao nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, giải pháp về phát triển bền vững kinh tế biển. Nâng cao hiệu quả, đa dạng hoá các hình thức, nội dung tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong toàn hệ thống chính trị, trong nhân dân, đồng bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế; khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam là duy trì môi trường hoà bình, ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế trên biển. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức đoàn thể các cấp trong công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân giám sát và phản biện xã hội việc thực hiện Nghị quyết.

Hai là: Hoàn thiện thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển bền vững kinh tế biển.

Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về biển theo hướng phát triển bền vững, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với chuẩn mực luật pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực và chuyển giao tri thức về biển, tích cực tham gia và chủ động thúc đẩy hình thành cơ chế toàn cầu và khu vực liên quan đến biển và đại dương.

Kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển từ Trung ương đến địa phương bảo đảm hiện đại, đồng bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, chuyên môn cao, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, giữa Trung ương với địa phương về công tác biển, đảo. Kiện toàn cơ quan điều phối liên ngành chỉ đạo thống nhất việc thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, tăng cường năng lực cho Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là cơ quan thường trực giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, đảo.

Kiện toàn mô hình tổ chức, nâng cao năng lực quản lý các đảo, quần đảo

và vùng ven biển, thực hiện bố trí dân cư trên các đảo gắn với mô hình tổ chức sản xuất theo hướng thân thiện với biển và môi trường biển.

Rà soát, bổ sung và xây dựng mới đồng bộ các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch liên quan đến biển, đảo theo hướng quản lý tổng hợp, phù hợp với hệ sinh thái biển, bảo đảm sự gắn kết hài hoà, đồng bộ giữa bảo tồn và phát triển các vùng đất liền, vùng ven bờ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, khẩn trương xây dựng quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tổng thể khai thác, sử

dụng bền vững tài nguyên vùng bờ.

Ba là: Phát triển khoa học, công nghệ và tăng cường điều tra cơ bản biển
Thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật về phát triển bền vững kinh tế biển.

Ưu tiên đầu tư cho công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực biển, hình thành các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học biển, khai thác đáy biển sâu, công nghệ vũ trụ trong giám sát biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Đánh giá tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế biển như hàng hải, khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số, sinh dược học biển… Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, mở rộng nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong điều tra, nghiên cứu ở các vùng biển quốc tế, đầu tư đội tàu nghiên cứu biển tiên tiến, thiết bị ngầm

dưới biển có khả năng nghiên cứu ở các vùng biển sâu.

Bốn là: Đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển
Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, kiến thức, hiểu biết về biển, đại dương, kỹ năng sinh tồn, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, phòng, tránh thiên tai cho học sinh, sinh viên trong tất cả các bậc học, cấp học. Phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường, có cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút nhân tài, từng bước hình thành đội ngũ các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia đạt trình độ quốc tế, có chuyên môn sâu về biển và đại dương, có cơ chế hỗ trợ nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo nguồn nhân lực biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu lao động của các ngành kinh tế biển và việc chuyển đổi nghề của người dân.

Năm là: Tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển.

Hoàn thiện tổ chức các lực lượng bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, chú trọng đào tạo nhân lực, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường khả năng hiệp đồng, tác chiến của các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đất nước. Xây dựng lực lượng công an khu vực ven biển, đảo, các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển vững mạnh, làm nòng cốt bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội vùng biển, đảo. Nâng cao năng lực hoạt động của các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, cứu nạn, cứu hộ, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng khu vực biển, đảo; bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư, người lao động và các hoạt động kinh tế khu vực biển; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vùng biển, đảo.

Sáu là: Chủ động tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển.

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá, chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển. Tăng cường quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các nước bạn bè truyền thống, các nước có tiềm lực về biển, các nước có chung lợi ích trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chủ động tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là các hoạt động hợp tác biển trong khuôn khổ ASEAN, phối hợp với các nước thực hiện đầy đủ và hiệu quả, tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông, thúc đẩy ký bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông.

Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý, sử dụng, bảo tồn bền

vững biển, đại dương thực hiện nghiêm túc các điều ước, thoả thuận khu vực và quốc tế về biển, đại dương mà Việt Nam đã tham gia nghiên cứu tham gia các điều ước quốc tế quan trọng về biển, trước mắt ưu tiên các lĩnh vực về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển đẩy mạnh tham gia nghiên cứu khoa học, khảo sát, thăm dò, khai thác tài nguyên tại các vùng biển quốc tế. Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các đối tác, các tổ chức quốc tế và khu vực để phát triển nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng vùng biển, ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại vào các ngành kinh tế biển, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Bảy là: Huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển, xây dựng các tập đoàn kinh tế biển mạnh.
Đẩy mạnh thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chủ động thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ nguồn, trình độ quản lý tiên tiến từ các nước phát triển, ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển các huyện đảo, xã đảo tiền tiêu, xa bờ, xã hội hoá đầu tư kết cấu hạ tầng biển, đảo, các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tập đoàn kinh tế biển mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trên biển, đặc biệt là ở các vùng biển xa bờ, viễn dương, tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành kinh tế biển, bảo đảm nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh.

Câu 3: Nước ta có bao nhiêu tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển? Hiện nay, nước ta có bao nhiêu huyện đảo; đó là những huyện đảo nào?

*Trả lời:

Từ bắc vào nam nước ta có 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển là các tỉnh và thành phố:

Quảng Ninh, Tp. Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Tp. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang.

*Nước ta có 12 huyện đảo; gồm những huyện đảo:

1. Huyện đảo Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng: Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng, nằm trên hòn đảo cùng tên với diện tích vào khoảng 2,5km2 khi có thủy triều lên và khoảng 4km2 khi thủy triều xuống, Đảo có vị trí quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển vịnh Bắc Bộ.

2. Huyện đảo Cát Hải thuộc thành phố Hải Phòng: Huyện đảo Cát Hải thuộc thành phố Hải Phòng, phía Tây Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, bao gồm đảo Cát Bà và đảo Cát Hải, tổng diện tích khoảng 345km2, nơi đây có Vườn Quốc gia Cát Bà là nơi lưu giữ nguồn gene quý hiếm trong đó có loài voọc đầu trắng được ghi vào sách Đỏ thế giới.

3. Huyện đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh: Cô Tô là tên quần đảo phía Đông của đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, địa danh hành chính là huyện Cô Tô diện tích 46,2km2 với dân số hơn 33.900 người, quần đảo Cô Tô có khoảng

50 đảo, đá lớn nhỏ

4. Huyện đảo Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh: Vân Đồn là một huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh diện tích tự nhiên 551,3km2, dân số vào khoảng 39.384 người, trong tổng số 600 hòn đảo thuộc huyện thì có hơn 20 đảo có người ở.

5. Huyện đảo Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: Huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 185km và cách cửa sông Hậu - Cần Thơ khoảng 83km. Diện tích tự nhiên của huyện khoảng 75,15km2, dân số khoảng 5.000 người, Côn Đảo được thiên nhiên ưu đãi với nhiều vẻ đẹp, môi trường sống của Côn Đảo trong lành, không khí mát mẻ, nguồn nước sạch sẽ.

6. Huyện đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị: Huyện đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị) có diện tích tự nhiên khoảng 2,5km2. Mặc dù với diện tích không lớn nhưng đảo lại có vị trí chiến lược án ngữ toàn bộ phần bờ biển Trung Bộ, gần nhiều tuyến đường hàng hải trong nước và quốc tế. Vì vậy, đảo có vai trò rất lớn trong công tác phòng thủ, bảo vệ an ninh quốc phòng vùng lãnh thổ, lãnh hải.

7. Huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng: Huyện đảo Hoàng Sa được thành lập từ tháng 1-1997 thuộc thành phố Đà Nẵng. Quần đảo này có diện tích 305km2, chiếm 24,29% diện tích thành phố Đà Nẵng. Hoàng Sa là một quần đảo san hô nằm cách thành phố Đà Nẵng 170 hải lý.

8. Huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi: Huyện Lý Sơn, còn gọi là cù lao Ré, diện tích của huyện khoảng 9,97km2 nhưng dân số lại lên đến hơn 20.460 người, hòn đảo là vết tích còn lại của một núi lửa với 5 miệng được hình thành cách đây 25 - 30 triệu năm.

9. Huyện đảo Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận: Phú Quý (còn gọi là cù lao Thu hay cù lao Khoai Xứ). Đây là huyện đảo thuộc tỉnh Bình Thuận, với diện tích 16km2, cách thành phố Phan Thiết 120km về hướng Đông Nam.

10. Huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa: Là huyện đảo của tỉnh Khánh Hòa, diện tích 496km2, nằm ở khu vực phía Nam biển Đông, gồm 20 đảo nổi và khoảng 80 bãi đá ngầm, gốc san hô, hòn đảo xa nhất cách đất liền tới 250 hải lý.

11. Huyện đảo Kiên Hải thuộc tỉnh Kiên Giang: Kiên Hải là huyện đảo của tỉnh Kiên Giang, nằm ngoài khơi vùng biển Tây Nam. Huyện có diện tích khoảng 30km2 và dân số khoảng 25.000 người, sinh sống trên các đảo trong quần đảo Kiên Hải, các đảo của huyện Kiên Hải vẫn còn sơ khai, nhiều phong cảnh đẹp mang đậm nét thiên nhiên.

12. Huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang: Huyện đảo này thuộc tỉnh Kiên Giang có tổng diện tích 589,23km2, thị trấn Dương Đông, tọa lạc ở phía Tây Bắc, là thủ phủ của huyện đảo, Phú Quốc nằm cách thành phố Rạch Giá 120km và cách thị xã Hà Tiên 45km.

Câu 4: Huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa hiện nay thuộc địa giới quản lý hành chính của các tỉnh, thành phố nào? Nêu những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?

*Trả lời:

Huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa Việt hiện nay thuộc địa giới quản lý hành chính của: thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa.Trong đó: Huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.

Huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

* Giai đoạn nhà nước phong kiến:

Nhà nước phong kiến Việt Nam trong suốt 3 thế kỷ, từ thế kỷ XVII đến

cuối thể kỷ XIX, dù trải qua 3 triều đại khác nhau, đều đã thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của mình, với tư cách là Nhà nước Đại Việt, tiến hành chiếm hữu và thực thi chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và trường Sa.

Nhà nước Đại Việt thời Chúa Nguyễn: Chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý chứng minh việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, đó là sự ra đời và hoạt động thường xuyên, liên tục của đội Hoàng Sa, một tổ chức do Nhà nước lập ra để quản lý, bảo vệ, khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đội Hoàng Sa, về sau lập thêm đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản, đã hoạt động theo lệnh của 7 đời chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần cho đến khi phong trào Tây Sơn nổi dậy.

Nhà nước Đại Việt thời Tây Sơn: Trong thời gian từ năm 1771 đến năm 1801, gần như lúc nào cũng có chiến tranh, trên đất liền cũng như ngoài Biển Đông. Tuy nhiên, các lực lượng của Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh, Tây Sơn đã làm chủ được từng khu vực lãnh thổ thuộc phạm vi quản lý của mình.

Từ năm 1773, Tây Sơn chiếm được cảng Quy Nhơn, tiến về phía Quảng Nam, kiểm soát đến Bình Sơn, Quảng Ngãi, nơi có cửa biển Sa Kỳ và Cù lao Ré, căn cứ xuất phát của Đội Hoàng Sa.

Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng Hoàng đế, chính quyền Tây Sơn được củng cố một cách hoàn chỉnh và năm 1786, đã ra quyết định phái Hội Đức hầu, cai đội Hoàng Sa, chỉ huy 4 chiếc thuyền câu vượt biển ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ như cũ.

Nhà nước Việt Nam thời nhà Nguyễn tiếp tục sử dụng đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, thống nhất đất nước, tuy bận việc nội trị, vẫn tiếp tục quan tâm đến việc bảo vệ, quản lý và khai thác khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 7 năm 1803, vua Gia Long cho lập đội Hoàng Sa: Lấy cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch làm đội Hoàng Sa (theo Đại Nam thực lực chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 12).

Tháng giêng năm Ất Hợi (1815) vua Gia Long quyết định; “sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình”...(theo Đại Nam thực lực chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 50, tờ 6a).

Năm 1833, 1834, 1836, Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công phái người ra Hoàng Sa để dựng bia chủ quyền, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ...mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc, “Vua Minh Mạng đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc...”.

Như vậy, suốt từ thời chúa Nguyễn đến thời nhà Nguyễn, đội Hoàng Sa, kiêm quản đội Bắc Hải, đã đi làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Những hoạt động này đã được các văn bản nhà nước ghi nhận, như: châu bản của triều đình nhà Nguyễn, các văn bản của chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, bằng cấp,... hiện đang được lưu trữ

tại các cơ quan lưu trữ nhà nước.

Trong giai đoạn lịch sử này, có một chứng cứ hết sức quan trọng không thể không đề cập đến khi chứng minh nhà nước phong kiến Việt Nam đã quản lý thật sự, hiệu quả đối với hai quần đảo này. Đó là việc tổ chức đơn vị hành chính của Hoàng Sa trong hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước lúc bấy giờ. Thời chúa Nguyễn, Hoàng Sa thuộc Thừa tuyên Quảng Nam hay Quảng Nghĩa (Ngãi), lúc là phủ khi thì trấn: “Bãi Cát vàng trong phủ Quảng Nghĩa” (Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá, tự Công Đạo 1686); “Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam, huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh” (Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn 1776); sang thời Tây Sơn, phủ Quảng Nghĩa đổi thành phủ Hòa Nghĩa. Thời nhà Nguyễn, Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

* Giai đoạn Pháp thuộc:

Theo Hiệp ước Pa-tơ-nốt (năm 1884), chính quyền thuộc địa Pháp đã có nhiều hoạt động cụ thể củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đây là một số hoạt động chủ yếu, có tính pháp lý.

Sau một thời gian tổ chức các cuộc nghiên cứu, khảo sát tại thực địa của các nhà khoa học và những cuộc trao đổi giữ những chính khách Pháp có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, ngày 8/3/1925, Toàn quyền Đông Dương đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận lãnh thổ thuộc địa Pháp. Ngày 19.3.1926, Thống đốc Nam Kỳ cấp giấy phép nghiên cứu mỏ ở đảo Trường Sa cho Công ty phosphat của Bắc Kỳ.

Ngày 13.4.1930, Thông báo Hạm Malicieuse do thuyền trưởng DeLattre điều khiển ra quần đảo Trường Sa theo chỉ thị của toàn quyền Đông Dương dựng bia chủ quyền, đóng giữ đảo Trường Sa và các đảo, đá, bãi phụ thuộc.

Ngày 23/9/1930, Chính phủ Pháp thông báo ngoại giao cho các cường quốc về sự kiện đóng giữ quần đảo Trường Sa theo đúng thủ tục.

Ngày 31.12.1930, Phòng đối ngoại Phủ Toàn quyền Đông Dương gửi báo cáo lên Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp về những hoạt động đóng giữ đảo Trường Sa và các đảo phụ cận, cũng như các tư liệu khảo cứu về pháp lý bảo vệ cho sự kiện đóng giữ này.

Ngày 11.1.1931, Thống sứ Nam kỳ thông báo cho Toàn quyền Đông Dương về việc sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.

Ngày 4.1.1932, Chính phủ Pháp gửi Công hàm tới Công sứ Trung Quốc tại Paris khẳng định chủ quyền của Pháp đối với Hoàng Sa và đề nghị giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hữu nghị hoặc bằng phương thức trọng tài quốc tế. Trung Quốc từ chối đề nghị này với lập luận rằng khi vua Gia Long chiếm hữu quần đảo này, Việt Nam là chư hầu của Trung Quốc.

Ngày 18.2.1937, Pháp lại chính thức yêu cầu Trung Quốc áp dụng phương thức trọng tài quốc tế để xác định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa,Trung Quốc lại khước từ.

Ngày 26.11.1937, Pháp phái kỹ sư trưởng J.Gauthier ra Hoàng Sa để nghiên cứu tìm địa điểm xây dựng đèn biển, bãi đỗ cho thủy phi cơ, nghiên cứu các điều kiện định cư ở quần đảo này.

Năm 1938, Pháp phái các đơn vị bảo an đến đồn trú trên các đảo và xây

dựng một hải đăng, một trạm khí tượng được Tổ chức Khí tượng thế giới cho đăng ký với số hiệu là 48859 ở đảo Phú Lâm, trạm vô tuyến điện trên đảo Hoàng Sa.

Ngày 30.3.1938, vua Bảo Đại ký Dụ số 10 sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên thay vì Nam Ngãi trước đây.

Ngày 15.6.1938, Pháp xây dựng xong trạm khí tượng ở đảo Ba Bình, quần đảo Trường Sa.

Ngày 15.6.1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brevie ký Nghị định 156-S-V thành lập đơn vị hành chính cho quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Tháng 6.1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa. Một bia chủ quyền đã được dựng tại đảo Hoàng Sa có khắc dòng chữ: “Republique Francaise – Rayaume d’ Annam – Achipel de Paracel 1816 – Ile de Pattle 1938”.

Trong chiến tranh thế giới lần 2, Nhật Bản tuyên bố sáp nhập các quần đảo trong Biển Đông vào các vùng lãnh thổ mà Nhật đã chiếm đóng. Ngày 4.4.1939, Chính phủ Pháp đã gửi Công hàm phản đối các quyết định nói trên của Nhật và bảo lưu quyền của Pháp tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Ngày 5.5.1939, Toàn quyền Đông Dương J.Brevie ký Nghị định số 3282 tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành hai đơn vị: “Croissant và các đảo phụ thuộc”, “Amphitrite và các đảo phụ thuộc”.

Ngày 26.11.1943, Tuyên bố Cario về việc kết thúc chiến tranh với Nhật và giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, trong đó có vấn đề lãnh thổ nước khác bị Nhật chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1914.

Ngày 15.8.1945, Nhật thua trận phải rút khỏi Đông Dương và ngày 26.8.1945, quân đội Nhật phải rút quân khỏi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

*Giai đoạn 1945 - 1975:

Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, mặc dù Việt Nam đã tuyên bố độc lập ngày 2.9.1945, không còn ràng buộc và Hiệp định Pa-tơ-nốt 1884, song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6.3.1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, trong vấn đề chống lại mọi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Theo Hiệp định ngày 8.3.1949, Pháp dựng lên chính quyền thân Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu; tuy nhiên trong thực tế quân đội Pháp vẫn làm chủ Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1949, tổ chức khí tượng Thế giới (OMM) đã chấp nhận đơn xin đăng ký danh sách các trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào danh sách các trạm khí tượng thế giới: Trạm Phú Lâm, số hiệu 48859, Trạm Hoàng Sa số hiệu 48860, Trạm Ba Bình số hiệu 48419.

Ngày 8.3.1949, Pháp ký với Bảo Đại Hiệp định Hạ Long trao trả độc lập

cho chính phủ Bảo Đại. Tháng 4, Hoàng thân Bửu Lộc, tuyên bố khẳng định lại

chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa.

Ngày 14.10.1950, Tống trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã chủ trì việc bàn giao quản lý quần đảo Hoàng Sa giữa chính phủ Pháp và chính phủ Bảo Đại.

Từ ngày 5 đến ngày 8.9.1951, Hội nghị San Francisco có đại diện của 51 nước tham dự để ký Hòa ước với Nhật. Tại phiên họp toàn thể mở rộng, ngày 5.9, với 48 phiếu chống, 3 phiếu thuận, đã bác bỏ đề nghị của ngoại trưởng Gromưco (Liên Xô cũ) về việc tu chỉnh khoản 13 của Dự thảo Hòa ước, trong đó có nội dung: Nhật thừa nhận chủ quyền của CHND Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa về phía Nam.

Ngày 7.9.1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng của Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Không một đại biểu nào trong Hội nghị có bình luận gì về tuyên bố này. Ngày 8.9.1951, Hòa ước với Nhật được ký kết. Điều 2, Đoạn 7 của Hòa ước ghi rõ: “Nhật Bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracel và Sprathly” (khoản f).

Ngày 20.7.1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết đã công nhận một nước có nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất. Điều 1 của Hiệp định đã quy định lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm giới tuyến tạm thời để phân chia quyền quản lý lãnh thổ giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam. Giới tuyến tạm thời này cũng được kéo dài bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi (Điều 4). Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam.

Tháng 4.1956, khi quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội quốc gia Việt Nam, về sau là Việt Nam Cộng hòa, đã ra tiếp quản nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa.

Trước những hành động xâm chiếm một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Trung Quốc và Philippin tiến hành vào thời điểm giao thời này, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối: Ngày 24/5 và ngày 08/6/1956, Việt Nam Cộng hòa ra thông cáo nhấn mạnh quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa “luôn luôn là một phần của Việt Nam” và tuyên bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam.

Ngày 22.8.1956, Tàu HQ04 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã ra đảo Trường Sa cắm bia chủ quyền, dựng cờ, bảo vệ quần đảo trước hành động xâm chiếm trái phép, vi phạm chủ quyền Việt Nam của Đài Loan và Philippin.

Ngày 20.10.1956, bằng Sắc lệnh 143/VN, Việt Nam Cộng hòa đã đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.

Năm 1960, Việt Nam Cộng hòa có quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng 1 tại Tam Kỳ, Quảng Na, giữ chức Phái viên hành chính Hoàng Sa; ngày 27.6.1961, bổ nhiệm ông Hoàng Yêm giữ chức phái viên hành chính Hoàng Sa. Ngày 13.7.1961, Việt Nam Cộng hòa sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam. Ngày 11.4.1967, Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 809-NĐ-DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức Phái viên hành chính xã Định Hải (Hoàng Sa), quần Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Ngày 21.10.1969, bằng Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa sáp nhập xã Định Hải (quần đảo Hoàng Sa) vào xã Hòa

Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Ngày 13.7.1971, tại Hội nghị ASPEC Manila, Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt nam.

Ngày 6.9.1973, Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa ký Nghị định 420-BNV-HCĐP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa và xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Từ 17.1 đến 20.1.1974, Trung Quốc huy động lực lượng quân sự đánh chiếm nhóm phía Tây, quần đảo Hoàng Sa. Mặc dù đã chiến đấu quả cảm, nhiều binh sỹ đã anh dũng hy sinh, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã không cản phá được hành động xâm lược của Trung Quốc. Tuy nhiên trên mặt trận ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ trước Liên Hợp quốc và cộng đồng quốc tế: Ngày 19.1.1974, Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã ra Tuyên cáo kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc.

Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa tuyên bố nêu rõ lập trường của mình trước sự kiện này:

- Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.

- Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.

- Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.

Ngày 1.2.1974, Việt Nam Cộng hòa tăng cường lực lượng đóng giữ, bảo vệ quần đảo Trường Sa trong tình hình Trung Quốc tăng cường sức mạnh tiến hành xâm chiếm lãnh thổ mà theo nhận định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Trung cộng sẽ đánh Trường Sa và xâm chiếm bằng vũ lực giống như Hoàng Sa, có sự tiếp tay hoặc làm ngơ của Mỹ”.

Ngày 2.7.1974, tại Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 của Liên Hợp quốc tại Caracas, đại biểu Việt Nam Cộng hòa đã lên tiêng tố cáo Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này là không tranh chấp và không thể chuyển nhượng.

Ngày 14.2.1975, Việt Nam Cộng hòa công bố Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

* Giai đoạn 1975 đến nay:

Ngày 5 tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam đã triển khai kế hoạch tiếp quản quần đảo Trường Sa.

Từ ngày 13 đến 29.4.1975, các lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo có quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo, một số vị trí khác trong quần đảo Trường Sa.

Ngày 5.6.1975, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng

lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 2.7.1976, tại kỳ hợp thứ nhất Quốc hội khóa 6 (1976-1981), Quốc

hội của nước Việt Nam thống nhất được bầu ngày 25.4.1976 đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn có nghĩa vụ, quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Ngày 12.5.1977, Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 28.9.1979, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố Sách trắng: chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó đã giới thiệu 19 tài liệu liên quan đến chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 12.1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.

Cho đến nay, ngoài những hoạt động kể trên, Việt Nam đang đóng giữ và quản lý 21 đảo, 33 điểm đóng quân tại quần đảo Trường Sa; không ngừng củng cố và phát triển các cơ sở vật chất phục vụ cho đời sống kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Như vậy, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ về lịch sử, cơ sở pháp lý và thực tế để khẳng định điều đó.

Câu 5: Hải quân Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày, tháng, năm nào? Ở đâu? Những chiến công tiêu biểu của Hải quân Nhân dân Việt Nam trong 65 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành?

*Trả lời:

Hải quân nhân dân Việt Nam được thành lập: Ngày 7.5.1955, tại số 87 Hoàng Hoa Thám, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ (7/5/1954), kết thúc cuộc kháng chiếntrường kỳ, gian khổ của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược, Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết, lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương; miền Bắc Việt Nam được giải phóng, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đi lên xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa.

Để bảo vệ, giữ vững trật tự an ninh trên các vùng duyên hải, chống mọi hoạt động của bọn hải phỉ, biệt kích, đặc vụ, bảo đảm an toàn cho nhân dân đi lại làm ăn trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc, quán triệt chủ trương của Đảng, cuối tháng 7 4 năm 1954, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương tổ chức nghiên cứu đề án xây dựng lực lượng bảo vệ vùng biển. Giữa tháng 4 năm 1955, ba đề án xây dựng lực lượng phòng thủ bờ bể đã hoàn thành, được Tổng Quân ủy thông qua, gồm: Đề án tổ chức biên chế cơ quan; Trường Huấn luyện bờ bể; Xưởng sửa chữa, đóng mới ca nô và kế hoạch lựa chọn, điều động cán bộ, chiến sĩ về xây dựng thủy quân. Đề án xây dựng các đài, trạm quan sát, các khu tuần phòng và trận địa pháo bờ biển. Đề án xây dựng lực lượng tàu thuyền hoạt động ở ven biển.

Thực hiện Quyết nghị của Tổng Quân ủy, ngày 26 tháng 4 năm 1955, Bộ Quốc phòng- Tổng Tư lệnh đã ra quyết định thành lập Trường Huấn luyện bờ bể (phiên hiệu C45) và Xưởng sửa chữa tàu thuyền (phiên hiệu C46), là hai cơ sở bảo đảm về kỹ thuật hải quân và đào tạo cán bộ của Cục Phòng thủ bờ bể sẽ ra đời sau đó. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ bể bao gồm cơ quan cục và hai đơn vị trực thuộc là: C45 và C46, với quân số ban đầu có 141 cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên. Nhiệm vụ của Cục Phòng thủ bờ bể là “cơ quan giúp Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo các lực lượng phòng thủ bờ bể, tổ chức đào tạo cán bộ, nhân viên thủy thủ; sản xuất, sửa chữa dụng cụ, phương tiện về thủy quân; xây dựng các thủy đội để bàn giao cho các khu và liên khu làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trên các vùng sông, biển”. Ngày 7 tháng 5 năm 1955 trở thành mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của Hải quân nhân dân Việt Nam

Những chiến công tiêu biểu của Hải quân nhân dân Việt Nam:

Trải qua 65 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, Hải quân nhân dân Việt Nam đã lập nhiều thành tích, chiến công xuất sắc và đặc biệt xuất sắc, có những chiến công như huyền thoại, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Những thành tích ấy được khái quát thành 8 chiến công tiêu biểu của Hải quân nhân dân Việt Nam, là:

Một là: Đánh đuổi tàu chiến Mỹ xâm phạm vùng biển miền Bắc (năm 1964)

Trước nguy cơ thất bại của Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Tổng thống Mỹ Johnson đã quyết định đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và tăng cường phá hoại miền Bắc Việt Nam. Trung tuần tháng 4-1964, Mỹ lên kế hoạch ném bom 94 mục tiêu ở miền Bắc. Đêm ngày 31-7-1964, rạng sáng 1-8, tàu khu trục Ma Đốc của Mỹ đã tiến sâu vào vùng biển Việt Nam và gây ra nhiều tội ác đối với nhân dân ta.

Với quyết tâm trừng trị kẻ xâm phạm, ngày 2-8-1964, các tàu phóng lôi 333, 336, 339 đã xuất kích, anh dũng chiến đấu, buộc tàu Ma Đốc phải tháo chạy ra khỏi hải phận vùng biển miền Bắc.

Đêm 8-4-1964, Chính quyền Mỹ đã dựng lên cái gọi là “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, vu cáo Hải quân nhân dân Việt Nam cố ý tiến công tàu chiến Mỹ ở vùng biển quốc tế. Ngày 5-8-1964, Mỹ dùng không quân tập kích ác liệt vào lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam từ Sông Gianh, Cửa Hội, Lạch Trường đến Bãi Cháy, nhằm tiêu hao lượng tàu chiến đấu, quân cảng, kho tàng, nhiên liệu của ta. Trong trận đầu thử lửa, Hải quân nhân dân Việt Nam đã hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội phòng không quốc gia, công an vũ trang, dân quân tự vệ các địa phương, đập tan cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ, bắn rơi tám máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác, và bắt sống viên phi công Mỹ đầu tiên ở miền Bắc.

Chiến thắng ngày 2 và 5-8-1964 là thắng lợi có ý nghĩa về chính trị, gây

tiếng vang lớn trên thế giới của quân và dân Việt Nam, mãi mãi trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Hai là: Góp phần làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc XHCN

Bị thất bại nặng nề ở chiến trường miền Nam, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm phá hủy tiềm năng kinh tế - quốc phòng và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với chiến trường miền Nam.

Hải quân nhân dân Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt đã chiến đấu anh dũng 716 trận, bắn rơi 118 máy bay, bắn bị thương 102 lần chiếc, bắn chìm và bị thương 45 tàu thuyền của địch, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ.

Ba là: Đánh bại chiến dịch phong tỏa thủy lôi trên sông, biển

Với quyết tâm “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”, Hải quân nhân dân Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, trực tiếp tháo gỡ, rà phá, làm mất hiệu lực 2400 quả thủy lôi, mở tuyến thông luồng trên hầu hết các cửa sông, cửa biển và hải cảng cho tàu thuyền của ta vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam,

góp phần chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai của địch.

Bốn là: Mở đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông chi viện cho miền Nam

Để chi viện cho cách mạng miền Nam, cùng với Đoàn 559 mở đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn. Đoàn 759 (tiền thân của Đoàn 125) được thành lập để mở đường Hồ Chí Minh trên biển. Trong suốt 14 năm vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam, Hải quân nhân dân Việt Nam đã chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, mưu trí vượt qua các tuyến bao vây, phong tỏa, đối phó với từng thủ đoạn của địch; sáng tạo nhiều phương thức hoạt động độc đáo, táo bạo; hình thành nhiều tuyến, mở hàng chục bến bãi thuộc các tỉnh ven biển miền Nam, đến tận cùng của đất nước và sát cửa ngõ Sài Gòn; vận chuyển kịp thời và đúng thời cơ hàng ngàn tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, hàng chục ngàn lượt người đến những chiến trường khó khăn nhất, nơi mà con đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn chưa vươn tới. Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông mãi mãi trở thành con đường huyền thoại, là nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Năm là: Huấn luyện Đặc công nước, lập chiến công Cửa Việt - Đông Hà

Để tiến công địch trên chiến trường sông biển miền Nam, đánh phá các căn cứ hậu cần, kho tàng, hải cảng, triệt phá các đường giao thông thủy bộ quan trọng, tạo thế bao vây quân Mỹ, ngụy, Hải quân nhân dân Việt Nam đã đảm nhận nhiệm vụ huấn luyện cán bộ, chiến sĩ đặc công nước chi viện cho các chiến trường và trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Cửa Việt - Đông Hà.

Hải quân nhân dân Việt Nam đã huấn luyện, đào tạo, bổ sung cho các chiến trường miềN Nam được hơn 5.000 cán bộ, chiến sĩ đặc công. Trong 7 năm, chiến đấu trên chiến trường Cửa Việt - Đông Hà đặc công Hải quân đã đánh 300 trận; đánh chìm, đánh hỏng 336 tàu xuồng chiến đấu, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Góp phần cùng các lực lượng trên khắp chiến trường miền Nam đánh chìm, đánh hỏng 4.473 tàu thuyền, đánh sập hàng trăm cầu cống, vật chất phục vụ chiến tranh, cùng quân dân miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Sáu là: Giải phóng Quần đảo Trường Sa, góp phần xứng đáng vào Đại thắng mùa Xuân 1975

Tham gia chiến dịch mùa Xuân năm 1975, Hải quân nhân dân Việt Nam đã huy động đến mức cao nhất lực lượng tàu thuyền chiến đấu và vận tải để đưa gần 4.000 cán bộ, chiến sĩ đi chiến đấu, chở pháo, xe tăng, vũ khí các loại từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Dùng tàu chiến thả thủy lôi ở cửa biển Thuận An - Bán đảo Sơn Trà để chặn địch tháo chạy ra biển, góp phần tạo điều kiện để các đơn vị bộ binh giải phóng các thành phố, các tỉnh ven biển, tiếp quản căn cứ Quy Nhơn, Nha Trang, Cam Ranh.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Lữ đoàn 125 và Đoàn Đặc công 126 Hỉa quân cùng bộ đội Quân khu V, với tinh thần thần tốc, táo bạo, bất ngờ đã giải phóng Quần đảo Trường Sa.

Bảy là: Bảo vệ chủ quyền vùng biển Tây Nam, làm nhiệm vụ quốc tế

Chỉ sau ba ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bè lũ Pol pot- Ieng

Sary đã xua quân tiến công Đảo Phú Quốc, Thổ Chu và tàn sát, bắt đi hàng trăm dân thường Việt Nam. Đến năm 1978, cuộc xung đột biên giới đã trở thành cuộc chiến tranh thực sự.

Trên hướng biển Tây Nam, Hải quân nhân dân Việt Nam đã cùng các quân binh chủng tiến hành các cuộc chiến đấu trên hướng chiến lược quan trọng của chiến dịch, cùng các lực lượng tiêu diệt 1.241 tên địch, bắt sống và gọi hàng 1.680 tên, giải phóng 12.300 dân, đánh chìm 27 tàu chiến, góp phần giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh, thành phố Cô Công, các vùng biển Campuchia, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng.

Từ năm 1976 - 1988, Hải quân nhân dân Việt Nam đã giúp bạn Lào tổ chức xây dựng lực lượng, đào tạo huấn luyện hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và thợ kỹ thuật, giúp bạn đóng mới một số tàu vận tải, bảo đảm kỹ thuật và viện trợ 14 tàu PBR, 33 tấn phụ tùng, sửa chữa 97 tàu, trang bị hàng chục máy công cụ, khôi phục Xưởng Chi-nai-mô, góp phần tăng cường mối quan hệ đoàn kết giữa Quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào.

Tám là: Bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa trong thời kỳ mới

Trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới, Hải quân nhân dân Việt Nam tập trung xây dựng Quân chủng vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, xây dựng Quân chủng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ Quốc, giữ vững môi trường hòa bình ổn định của đất nước và khu vực, góp phần vào thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trong thời kỳ CNH, HĐH. Luôn xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng và nhân dân cả nước.

Câu 6: Trong lịch sử, bộ đội Hải quân vinh dự được đón Bác Hồ về thăm mấy lần? Thời gian, địa điểm Bác Hồ đến thăm? Dấu ấn và những kỷ niệm sâu sắc của Bác Hồ trong những lần về thăm đó?

*Trả lời:

Trong lịch sử, bộ đội Hải quân vinh dự được Bác Hồ về thăm 3 lần; thời gian, địa điểm Bác Hồ đến thăm:

Lần thứ nhất: Bác đến thăm bộ đội Hải quân ngày 30.3.1959, tại Trường Huấn luyện Hải quân và Xưởng 46 - thành phố Hải Phòng.

Sau 2 tháng Cục Phòng thủ bờ biển thành lập, ngày 30-3-1959 cán bộ, chiến sĩ

Trường Phòng thủ bờ biển và xưởng 46, lớp người đầu tiên xây dựng Hải quân

Việt Nam vinh dự được Bác về thăm. Những lời dạy giản dị mà sâu sắc của Bác trở thành nhiệm vụ, phương châm xây dựng Hải quân Nhân dân Việt Nam ngày một trưởng thành của những người làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

  1. thứ hai: ngày 15.3.1961 tại cơ quan Cục Hải quân - TP. Hải Phòng. Sau những năm phấn đấu xây dựng, phát triển lực lượng, tháng 3.1961 bộ đội hải quân lại vinh dự đón Bác về thăm.

Lần thứ ba: ngày 13.11.1962 tại Đoàn 135 tàu Phóng lôi - Căn cứ Vạn Hoa, tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 13 tháng 11 năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm bộ đội Hải quân lần thứ ba. Tiểu đoàn 135 tàu phóng lôi sau khi hoàn hành cuộc diễn tập với lực lượng tàu săn ngầm và pháo binh bờ biển đạt kết quả tốt, được vinh dự đón Bác tại căn cứ Vạn Hoa, Quảng Ninh.

Dấu ấn và những kỷ niệm sâu sắc của Bác Hồ trong những lần về thăm:

Sau 2 tháng Cục Phòng thủ bờ biển thành lập, ngày 30-3-1959 cán bộ, chiến sĩ Trường Phòng thủ bờ biển và xưởng 46 – lớp người đầu tiên xây dựng Hải quân Việt Nam – vinh dự được Bác về thăm. Những lời dạy giản dị mà sâu sắc của Bác trở thành nhiệm vụ, phương châm xây dựng Hải quân Nhân dân Việt Nam ngày một trưởng thành của những người làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Hôm đó, chiếc tàu 524 thuộc Đại đội 3 đưa Bác và các đồng chí lãnh đạo trung ương đi thăm và kiểm tra một số đơn vị trên vùng biển Hạ Long. Đến đảo Hòn Rồng, trước niềm vui bất ngờ của cán bộ chiến sĩ Đại đội 34, với giọng ân cần Bác nói: “Bác và anh Cả (đồng chí Nguyễn Lương Bằng) thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ ra thăm các chú!”.

Không chờ đơn vị báo cáo tình hình, Bác hỏi ngay: “Các chú thiếu nước ngọt và sách báo phải không?”. Rồi Bác quay sang nói với đồng chí cán bộ Tổng cục Hậu cần lưu ý giải quyết để anh em mỗi tuần được tắm nước ngọt 2 lần…

Sau khi xem nơi ăn chốn ở, sinh hoạt, Bác mới quay về sân doanh trại nói chuyện với đơn vị. Thật bất ngờ khi Bác lại hỏi: “Các chú chưa có đài nghe tin tức phải không, Bác sẽ gửi tặng các chú một chiếc!”. Mấy ngày sau đơn vị nhận được điện của Phủ Chủ tịch: “Đơn vị cho người lên nhận đài của Bác tặng”.

Sau đó mỗi cán bộ, chiến sĩ còn nhận được một tấm ảnh chụp kỷ niệm chung với Bác.

Lần về thăm đảo Vạn Hoa xa xôi trên vùng biển Đông Bắc Tổ quốc, đứng trên đảo nhìn sang phía Cửa Mô trước mặt, Bác đã kể cho cán bộ, chiến sĩ nghe về Trần Khánh Dư – một danh tướng thời Trần dùng mưu đánh chiếm đoàn thuyền tiếp lương của quân Nguyên sang xâm lược nước ta, rồi nhắc nhở: “Hải quân phải ra sức phát huy truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông, phải biết tìm cách đánh sao cho phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị sẵn có!”.

Thấu hiểu nỗi khó khăn của người lính làm nhiệm vụ trên con tàu, ngoài hải đảo, Bác khuyên: “Là chiến sĩ hải quân các chú phải yêu quý đảo như yêu quý nhà mình, chịu khó cải tạo xây dựng thành những mảnh đất vừa giàu, vừa đẹp có lợi cho mình lại có lợi cho đất nước…”.

Bác nhắc cán bộ, thủy thủ đoàn 125 phong lôi: “Những con tàu này quý lắm. Ta chưa làm ra được, phải nhờ các bạn giúp, các chú nên giữ gìn cho tốt”.

Sau những năm phấn đấu xây dựng, phát triển lực lượng, tháng 3-1961, bộ đội hải quân lại vinh dự đón Bác về thăm.

Đồng chí Nguyễn Bá Phát – Phó cục trưởng Hải quân đã báo cáo với Bác về sự phát triển các đơn vị tàu chiến đấu, đồng thời nêu những khó khăn và khuyết, nhược điểm trong quá trình đi lên. Bác khen ngợi: “Các chú có nhiều cố gắng thế là tốt. Hiện nay tàu bè, vũ khí của ta chưa nhiều, phải từng bước, từng bước xây dựng. Trước mắt giữ gìn những gì đã có để có thể đánh địch khi cần thiết”.

Trên con tàu hành trình ra vùng biển Đông Bắc qua dòng sông Bạch Đằng lịch sử, Bác xúc động nói: “Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm hiện đại, nhưng không được quên truyền thống đánh giặc xưa kia của tổ tiên”.

Còn tại hang Đầu Gỗ - nơi xưa kia Trần Hưng Đạo dựng công trường làm cọc để cắm trên sông Bạch Đằng đánh tan giặc Nguyên Mông, Bác nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài và đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Những lời giản dị mà vô cùng sâu sắc của Bác ngày nào sẽ mãi mãi khắc sâu tâm trí những người lính canh trời, giữ biển và trở thành nhiệm vụ phương châm xây dựng Hải quân Nhân dân ngày càng trưởng thành vững mạnh.

Sau những lần Bác về thăm, các đơn vị đã phát động phong trào “Học tập và làm theo lời dạy của Bác”. Phong trào dấy lên từ đất liền đến hải đảo, từ lực lượng chiến đấu đến đơn vị phục vụ. Với nội dung phong phú về học tập, công tác, sẵn sàng chiến đấu và cả rèn luyện nền nếp chính quy, tăng gia, tiết kiệm.

Hải quân Nhân dân Việt Nam đã và đang phấn đấu xây dựng theo hướng chính quy hiện đại, để làm tròn nhiệm vụ giữ vững chủ quyền biển, đảo trên đường biên giới biển rộng dài của Tổ quốc. Đây cũng là lực lượng quan trọng đóng góp vào việc phát triển kinh tế biển, tiềm năng to lớn của đất nước.

Lời dạy đó của Bác vừa là lời chỉ bảo ân tình, sâu sắc, vừa là mệnh lệnh thiêng liêng, trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong xác định nhiệm vụ và hành động của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam.

Câu 7: Nêu truyền thống 16 chữ vàng của Hải quân Nhân dân Việt Nam?

Quân chủng Hải quân vinh dự đư­ợc Đảng, Nhà nư­ớc tuyên dư­ơng danh

hiệu Đơn vị Anh hùng lực l­ượng vũ trang nhân dân mấy lần? Vào ngày, tháng, năm nào?

*Trả lời:

Truyền thống 16 chữ vàng của HQND Việt Nam anh hùng:

65 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng, trưởng thành, Hải quân nhân dân Việt Nam luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lập nhiều thành tích, chiến công oanh liệt. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong quân chủng bằng mồ hôi, công sức và cả xương máu của mình nối tiếp nhau xây đắp và tô thắm truyền thống vẻ vang “Chiến đấu anh dũng; mưu trí, sáng tạo; làm chủ vùng biển; quyết chiến, quyết thắng”. Truyền thống đó là tài sản tinh thần vô giá, là động lực, niềm vinh dự, tự hào to lớn để động viên, cổ vũ thế hệ hôm nay tiếp tục giữ vững, phát huy lên tầm cao mới. Những đặc trưng tiêu biểu của truyền thống đó là:

1. Chiến đấu anh dũng:

Là nét đặc trưng tiêu biểu, niềm tự hào của Hải quân nhân dân Việt Nam về ý chí quyết tâm và tinh thần “dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng” kẻ thù cho dù chúng có vũ khí hiện đại, tối tân và tiềm lực 26 quân sự hơn ta gấp nhiều lần. Là quân chủng làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ giữ vững chủ quyền quốc gia trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc, Hải quân nhân dân Việt Nam luôn tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thử thách, hiểm nguy, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng sẵn sàng chiến đấu quên mình vì mục tiêu cao cả trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Trực tiếp đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn vô cùng hiểm độc và vũ khí trang bị tối tân, hiện đại của kẻ thù, cán bộ, chiến sĩ hải quân ta đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, với tinh thần “còn người còn tàu, còn một người vẫn chiến đấu, còn một viên đạn vẫn bắn thù”, kiên cường bám trụ, quyết tâm chiến thắng. Thực tiễn lịch sử 60 năm của Quân chủng đã khẳng định: trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Hải quân nhân dân Việt Nam luôn thể hiện ý chí chiến đấu kiên cường, dũng cảm và giành thắng lợi vẻ vang.

Đó là sự kế thừa xuất sắc dòng máu lạc hồng, truyền thống anh dũng trong dựng nước và giữ nước của dân tộc, tinh thần “không để bị khuất phục” của cha ông ta kết hợp với quán triệt sâu sắc quan điểm, tư tưởng cách mạng tiến công trong thời đại Hồ Chí Minh; phát huy bản chất, truyền thống “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh… nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam; nêu cao tinh thần dám đánh, quyết đánh và quyết đánh thắng kẻ thù, trở thành truyền thống tiêu biểu, niềm tự hào, nguồn cổ vũ động viên và tư tưởng chỉ đạo quyết tâm hành động của toàn quân chủng trong xây dựng, chiến đấu, chiến thắng, trưởng thành trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai.

2. Mưu trí, sáng tạo:

Là nét đặc trưng tiểu biểu về trí thông minh, tinh thần sáng tạo, biết vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hiểm nguy để đánh thắng kẻ thù, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của bộ đội hải quân. Là lực lượng làm nhiệm vụ chiến đấu trên môi trường sông biển có rất nhiều khó khăn phức tạp, căng thẳng, nguy hiểm. Song trong điều kiện hoàn cảnh nào cán bộ, chiến sĩ hải quân cũng đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Bởi họ đã đoàn kết một lòng, phát huy trí thông minh, tinh thần sáng tạo, mưu trí vượt qua những thử thách đầy cam go để giành thắng lợi.

Trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân và phong tỏa sông biển bằng thủy lôi, bom từ trường của đế quốc Mỹ, hay trong tác chiến đặc công hải quân, trong vận tải chi viện chiến trường và trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo, làm kinh tế quốc phòng…bộ đội hải quân đã phát huy trí thông minh, lòng dũng cảm và tinh thần sáng tạo vượt qua khó khăn, lập nhiều thành tích, chiến công xuất sắc, có những chiến công như huyền thoại. Trải qua 60 năm xây dựng, trưởng thành, Quân chủng Hải quân gặp phải muôn vàn khó khăn thử thách song tất cả những khó khăn thử thách ấy đều đã bị khuất phục trước ý chí quyết tâm và trí thông minh, sáng tạo của bộ đội hải quân. Sự thông minh, mưu trí, sáng tạo để làm nên chiến thắng được hun đúc qua các thời kỳ xây dựng, trưởng thành của Quân chủng Hải quân; trở thành truyền thống tiêu biểu, được các thế hệ trong Quân chủng không ngừng giữ vững và phát huy.

3. Làm chủ vùng biển:

Là nét đặc trưng tiêu biểu vốn có của Hải quân nhân dân Việt Nam, luôn thể hiện vai trò là lực lượng chủ lực, nòng cốt trong quản lý, 27 bảo vệ vững chắc chủ quyền trên các vùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc. Là một lực lượng mang tính đặc thù cao của quân đội làm nhiệm vụ trong môi trường đặc biệt, phạm vi quản lý, bảo vệ rộng, hoạt động trong điều kiện nhiều khó khăn, phức tạp khó lường. Song Hải quân nhân dân Việt Nam luôn đoàn kết thống nhất chặt chẽ, phát huy tinh thần chủ động, tích cực, hoàn thành tốt nhiệm vụ làm nòng cốt quản lý, chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền trên các vùng biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.

Trong chiến tranh hay khi đất nước đã hòa bình, cán bộ, chiến sĩ Hải quân luôn xác định tốt nhiệm vụ, đoàn kết, vững vàng vượt qua khó khăn thử thách, kiên cường chiến đấu và chiến thắng địch, tích cực, chủ động tổ chức tuần tiễu, trực canh quản lý, bảo vệ, giữ vững chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc. Có thể nói, 60 năm qua, dù trong điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, thử thách phức tạp đến thế nào Hải quân nhân dân ta với ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, sự nhạy bén và trí thông minh, sáng tạo đã làm xoay chuyển tình hình để giành thắng lợi, thực sự làm chủ trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc. Đó là một trong những truyền thống tiêu biểu trong lịch sử xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân chủng Hải quân anh hùng.

Truyền thống đó đã và đang được mọi quân nhân, công nhân viên quốc phòng toàn quân chủng tiếp tục phát huy trong giai đoạn mới.

4. Quyết chiến, quyết thắng:

Là nét đặc trưng tiêu biểu thể hiện tinh thần “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, không bao giờ chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù hay lực cản nào, với ý chí quyết tâm đến cùng để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao của Hải quân nhân dân Việt Nam, vì sự nghiệp giải phóng, xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, vì sự bình yên của biển, đảo và hạnh phúc của nhân dân.

Hoạt động trong môi trường đặc thù có nhiều khó khăn, phức tạp, đối tượng tác chiến có tiềm lực và khả năng phương tiện, vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại hơn ta gấp nhiều lần. Song bất kể trong tình huống, điều kiện, hoàn cảnh nào, ở đâu, Hải quân nhân dân Việt Nam luôn thể hiện rõ ý chí quyết tâm chiến đấu, tinh thần triệt để cách mạng và tư tưởng không ngừng tiến công, không bao giờ lùi bước trước những khó khăn, thử thách hiểm nguy, kiên quyết, kiên trì thực hiện đến cùng để giành thắng lợi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trong chiến đấu với kẻ thù, dù ở trên đất liền, gần hậu phương hay giữa biển khơi, trên hải đảo xa bờ hoặc ngay trong vùng địch tạm chiếm, cán bộ, chiến sĩ hải quân luôn tỏ rõ là lực lượng có bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường, không sợ gian khổ, ác liệt, hy sinh, nêu cao tinh thần quyết chiến và quyết thắng, chủ động, tích cực, mưu trí tiến công tiêu diệt địch, lập nên nhiều chiến công hiển hách, có những chiến công như huyền thoại. Những khi gặp tình huống hiểm nghèo, ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng mỏng manh, cán bộ, chiến sĩ hải quân vẫn một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, gan dạ đánh địch đến viên đạn cuối cùng, hơi thở cuối cùng, quyết không để vũ khí, con tàu rơi vào tay địch, không để bị lộ bí mật về con đường vận chuyển chi viện chiến trường, đã hy sinh anh dũng trước 28 mặt quân thù, khiến cho chúng phải bàng hoàng và vô cùng thán phục. Đó là sự hy sinh làm nên chiến thắng! sáng ngời bản lĩnh, ý chí quyết chiến, quyết thắng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của bộ đội Hải quân Việt Nam.

Trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, bộ đội Hải quân đã phát huy truyền thống nhân nghĩa của cha ông và thực hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của Đảng, bảo đảm tinh thần hòa hiếu, đoàn kết, hữu nghị, vừa kiên trì tuyên truyền thuyết phục, vừa bình tĩnh, khôn khéo trong xử trí tình huống; có thái độ kiên quyết không khoan nhượng trước hành động xâm phạm chủ quyền của nước ngoài. Tích cực kiềm chế trước thái độ ngang ngược, phi nghĩa, không để bị mắc mưu khiêu khích cho dù có phải hy sinh, tổn thất… giữ hòa khí, không để xảy ra xung đột, bảo vệ vững chắc chủ quyền của dân tộc. Kiên cường, dũng cảm vật lộn với sóng dữ, bão giông… để tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển. Nêu cao tinh thần sáng tạo, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, khắc phục khó khăn trong thực hiện kết hợp quốc phòng với kinh tế, tổ chức tốt lao động sản xuất làm kinh tế với thực hiện hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc phòng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ

quốc.

Quân chủng Hải quân vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương Danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân hai lần:

Lần 1 vào ngày 13 tháng 12 năm 1989 (Theo Lệnh số 316/KT-HĐNN)

Lần 2 vào ngày 18 tháng 12 năm 2014 (Theo Quyết định số 3386/QĐ-CTN).

Ngày 18-12-2014 Chủ tịch nước ký quyết định tuyên dương Đơn vị Anh

hùng LLVT nhân dân trong thời kỳ đổi mới và danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước cho 4 đơn vị (Cục Chính trị Hải quân, Cục Kỹ thuật Hải quân, Lữ đoàn 172 Vùng 3 Hải quân và Lữ đoàn 602 thuộc Bộ Tham mưu Hải quân). Đây là lần đón nhân danh hiệu An hùng LLVT nhân dân lần thứ hai của Quân chủng.

Câu 8: Tính đến hết năm 2019, Quân chủng Hải quân đã ký kết Chương trình phối hợp tuyên truyền biển, đảo với bao nhiêu tỉnh, thành phố và cơ quan, đơn vị?

*Trả lời:

Tính đến năm 2019, Quân chủng Hải quân đã ký kết Chương trình phối hợp tuyên truyền biển, đảo với: 63 tỉnh, thành phố và 15 cơ quan Trung ương, cơ quan thông tấn báo chí.

Câu 9: Phương hướng xây dựng Hải quân Nhân dân Việt Nam hiện đại được Đảng, Nhà nước ta xác định như thế nào? Hiện nay Hải quân Nhân dân Việt Nam có bao nhiêu thành phần lực lượng, đó là những thành phần lực lượng nào?

*Trả lời:

Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Nghị quyết TW4 (khóa X) “về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X “Về xây dựng khu vực phòng thủ”...; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân chủng lần thứ XI về xây dựng lực lượng Hải quân hiện đại và thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc trong giai đoạn mới; phương hướng xây dựng HQND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn hiện nay là:

Một là: Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, tích cực, chủ động làm tốt chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược biển, đặc biệt trong xử lý các vấn đề về biên giới lãnh thổ trên biển.

Tiếp tục quán triệt thực hiện nghiêm đường lối chính trị, đường lối quân sự và đối ngoại của Đảng, đặc biệt là quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và XII, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”. Luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, thường xuyên nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu kịp thời, chính xác cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về những chủ trương, chính sách, giải pháp xử lý có liên quan đến tổ chức thực hiện hiệu quả chiến lược biển Việt Nam và nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên hướng biển. Đẩy mạnh xây dựng quân chủng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Tiếp tục phát triển nâng cao chất lượng tổ chức lực lượng các binh chủng chiến đấu và các lực lượng trực thuộc khác, nâng cao chất lượng xây dựng con người, đồng thời tiếp tục hiện đại hóa các phương tiện, vũ khí, trang bị kỹ thuật theo lộ trình xây dựng hải quân hiện đại, bước đi phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của đất nước, bảo đảm cho quân chủng đủ sức hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ làm nòng cốt trong quản lý, bảo vệ vững chắc biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc. Không ngừng nâng cao trình độ chính quy, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ chủ quyền.

Đẩy mạnh thực hiện và phát huy có hiệu quả các chương trình, đề án, dự án đã được đầu tư, đồng thời tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, triển khai các kế hoạch, đề án, dự án mới phù hợp với xu hướng phát triển của Hải quân trong tương lai.

Hai là: Tập trung xây dựng quân chủng vững mạnhvề mọi mặt, trước hết vững mạnh về chính trị, nâng cao sức mạnh chiến đấu, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, quản lý bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc..

Tập trung xây dựng Quân chủng Hải quân vững mạnh toàn diện, trong đó trước hết là xây dựng quân chủng vững mạnh và tinh nhuệ về chính trị. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục nhằm nâng cao niềm tự hào của đơn vị anh hùng; xây dựng bản lĩnh, lòng yêu nước, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, 32 nhân dân và niềm tin vững chắc, ý chí kiên cường, không bao giờ lùi bước trước những khó khăn, thử thách khắc nghiệt. Chủ động nắm, dự báo, định hướng, phát hiện và giải quyết kịp thời về tư tưởng, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, kiên quyết đấu tranh, phòng chống có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”của kẻ địch. Làm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận thức sâu sắc tình hình, yêu cầu nhiệm vụ, xác định rõ đối tượng, đối tác, đối tượng tác chiến của Hải quân và yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần yêu biển, đảo, yêu con tàu, đài trạm và nhà giàn, gắn bó máu thịt với đơn vị, quân chủng, quân đội; có ý thức cảnh giác cách mạng, tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Nêu cao tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”; tích cực bồi dưỡng rèn luyện ý chí quyết tâm “dám đánh, quyết đánh” và đánh thắng mọi kẻ thù trong mọi hoàn cảnh. Thường xuyên chăm lo củng cố xây dựng, tăng cường tình đoàn kết máu thịt với nhân dân. Nâng cao chất lượng thực hiện các chương trình kết nghĩa, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có chiều sâu các chương trình hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chương trình phối hợp tuyên truyền về biển đảo kết hợp với tuyên truyền thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho xây dựng, phát triển Quân chủng Hải quân hiện đại. Phối hợp chặt chẽ trong xây dựng các cơ sở chính trị vững chắc, huy động sự quan tâm ủng hộ của các cấp, ngành Trung ương, địa phương và nhân dân cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài tạo điều kiện về vật chất, tinh thần đối với lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo và chăm lo xây dựng lực lượng Hải quân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức làm nòng cốt đánh bại mọi kẻ địch trên hướng biển. Nâng cao năng lực nắm tình hình trên biển và khả năng tổ chức chỉ huy, điều hành tác chiến ở các cấp. Chú trọng bồi dưỡng xây dựng lực lượng tự vệ biển rộng khắp, có cơ cấu hợp lý, quản lý huấn luyện chu đáo, đánh địch được ở nhiều khu vực, nhiều hướng. Củng cố, xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng nhân dân trên biển, phát huy tối đa sức mạnh toàn dân.

Xây dựng được cách đánh phù hợp, độc đáo, hiệu quả, đánh địch từ xa đến gần, bằng tất cả các loại vũ khí, trang bị hiện có; giải quyết được kịp thời các tình huống theo chức năng quyền hạn, nhiệm vụ đã xác định ở từng cấp, tạo cơ sở cho phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh thắng địch và không bị bất ngờ. Góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo để xây dựng, phát triển đất nước.

Ba là: Không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy, bảo đảm an toàn mọi mặt

Thực hiện nghiêm mệnh lệnh công tác huấn luyện hàng năm, tập trung mọi nỗ lực huấn luyện và xây dựng quân chủng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; lấy nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa là mục tiêu của công tác huấn luyện. Bám sát tình hình nhiệm vụ và thực tiễn, nắm chắc phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”. Coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát với nhiệm vụ, các tình huống, phương án chiến đấu, đối tượng tác chiến, tổ chức biên chế trang bị, địa bàn hoạt động của từng lực lượng, đơn vị, phù hợp với sự phát triển của tình hình và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chú trọng 33 huấn luyện cho các lực lượng của quân chủng để nhanh chóng làm chủ các loại trang bị, vũ khí hiện đại.

Tăng cường huấn luyện diễn tập theo các phương án, huấn luyện đêm và trong những điều kiện thời tiết khó khăn phức tạp, trong xử trí các tình huống. Kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, xây dựng nền nếp chính quy, quản lý kỷ luật và thực hiện các cuộc vận động. Thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính; triệt để thực hành tiết kiệm và chống lãng phí. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ tác chiến, kỹ chiến thuật kết hợp với nâng cao thể chất của người quân nhân; gắn huấn luyện với rèn luyện bản lĩnh, ý chí của bộ đội và xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật của đơn vị; rèn luyện kỹ năng thực hành, xây dựng niềm tin vững chắc vào khả năng của ta hoàn toàn có thể đánh thắng địch trong mọi tình huống.

Bốn là: Làm tốt công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội; thực hiện có hiệu quả lao động sản xuất kết hợp kinh tế với quốc phòng

Chủ động chuẩn bị chu đáo, vững chắc về mọi mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức kết hợp với làm tốt công tác bảo đảm hậu cần và kỹ thuật. Thường xuyên chăm lo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Tích cực, chủ động bổ sung hoàn thiện các phương án tác chiến. Kết hợp chặt chẽ giữa làm chủ, khai thác sử dụng tốt các phương tiện, vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, hiện đại với làm chủ và không ngừng nghiên cứu, cải tiến phát huy hiệu quả các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có.

Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển lý luận quân sự hải quân lên tầm cao mới đồng thời tiếp tục nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm chiến đấu trên sông, biển của cha ông kết hợp với nghiên cứu rút kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh ở một số nước trên thế giới để vận dụng xây dựng cách đánh phù hợp, hiệu quả bằng các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có nhằm đánh thắng các cuộc tiến công trên hướng biển của kẻ thù. Làm tốt việc kết hợp kinh tế với quốc phòng; đẩy mạnh tăng gia sản xuất làm kinh tế; nâng cao năng lực tự chủ, tinh thần sáng tạo, mạnh dạn đầu tư, đổi mới sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật, hiệu quả ngày càng cao, thiết thực phục vụ đời sống bộ đội, xây dựng đơn vị, góp phần xây dựng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Năm là: Tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại quân sự, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, góp phần xây dựng vùng biển hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Tiếp tục quán triệt thực hiện tốt đường lối đối ngoại của Đảng, tăng cường các hoạt động củng cố mối quan hệ và mở rộng đối ngoại quân sự ngày càng đi vào chiều sâu, nâng cao sự hiểu biết, tình đoàn kết hữu nghị giữa Hải quân Việt Nam với bạn bè quốc tế; đẩy mạnh hợp tác với hải quân các nước, nhất là các nước trong khu vực trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, hai bên cùng có lợi; tiếp tục duy trì tốt hoạt động tuần tra chung, thường xuyên trao đổi thông tin, giải quyết kịp thời những vấn đề liên quan để cùng giữ vững môi trường hòa bình, sự ổn định trong khu vực vì lợi ích chung, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên các vùng biển, đảo.

Sáu là: Xây dựng Đảng bộ TSVM, các tổ chức quần chúng vững mạnh; nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng, cống hiến tài năng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về những vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay và thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tăng cường xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, trọng tâm là cấp ủy, tổ chức chỉ huy thật sự vững mạnh, trong sạch, phát huy tốt vai trò chức năng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn gương mẫu đi đầu cả về phẩm chất đạo đức, lối sống, có trách nhiệm, có sức khỏe tốt, đủ kiến thức trình độ, năng lực, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Động viên mọi cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng luôn nêu cao tinh thần tích cực, chủ động khắc phục khó khăn, không ngừng phấn đấu tu dưỡng, học tập, vươn lên giành những đỉnh cao trong mọi lĩnh vực hoạt động, công tác thành phong trào thi đua hành động tự giác, thường xuyên liên tục ở các cấp, ngành, cơ quan, đơn vị, tạo môi trường điều kiện thuận lợi để mọi quân nhân, công nhân viên quốc phòng rèn luyện thử thách, ra sức “phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh bộ đội Cụ Hồ-Người chiến sĩ Hải quân”, góp phần đẩy mạnh việc xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống thành lập Hải quân nhân dân Việt

Nam là một dịp để chúng ta ôn lại truyền thống, lịch sử và những chiến công hào hùng mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng hải quân đã đóng góp công sức, trí tuệ trong 65 năm xây dựng, trưởng thành của quân chủng. Từ đó nâng cao niềm tự hào, trân trọng và tôn vinh những công lao, sự cống hiến hy sinh của các thế hệ đi trước, tiếp tục nhân lên ý nghĩa giá trị to lớn của mỗi chiến công, từng sự kiện lịch sử cũng như cả quá trình xây dựng, trưởng thành vẻ vang và những bài học kinh nghiệm quý báu vận dụng vào thực tiễn xây dựng, phát triển Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong giai đoạn mới.

Hiện nay HQND Việt Nam có 5 thành phần lực lượng, gồm:

Một là: Tàu ngầm

Các tàu ngầm Kilo mà Nga đóng cho Việt Nam là loại tiên tiến, được gọi là "hố đen đại dương" bởi khả năng ẩn mình gần như hoàn hảo của nó.

Đội hình 6 tàu ngầm Kilo có số hiệu từ 182 đến 187 lần lượt mang tên Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Khánh Hòa, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình hiện đại hoá vũ khí, khí tài quân sự, nâng cao sức chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Hai là: Pháo binh - Tên lửa bờ

Hiện nay, Đoàn 681 Hải quân được trang bị Tổ hợp tên lửa bờ Bastion-P và Tổ hợp rada bờ Monolit-B, trong đó Bastion-P là một trong những hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển cơ động hiện đại nhất trên thế giới hiện nay.

Ba là: Không quân Hải quân

Ngày 3/7/2013, Bộ Quốc phòng bàn giao Lữ đoàn Không quân 954 từ Quân chủng Phòng không Không quân về Quân chủng Hải quân. Lữ đoàn được giao nhiệm vụ tác chiến săn ngầm, vận tải quân sự, trinh sát, quan sát trên không, trên mặt đất, mặt nước, tìm kiếm cứu nạn trên biển, trên đất liền và cứu hộ, cứu nạn, phòng chống bão lụt.

Bốn là: Hải quân Đánh bộ; Đặc công Hải quân và lực lượng phòng thủ đảo.

Lính Hải quân đánh bộ còn được gọi là đặc công Hải quân – lực lượng tác chiến đặc biệt tinh nhuệ. Họ đều bơi rất giỏi, trang bị trên người có thể lên đến 40kg hoặc ít hơn tùy nhiệm vụ, chiến đấu như bộ binh nhưng lại phải thành thạo kỹ thuật đánh gần cũng như cách đánh các loại mục tiêu kiên cố, độc lập tác chiến trong điều kiện chỉ huy thông tin hạn chế. Khi có chiến tranh xảy ra mà chiến trường là đảo do ta quản lý bị nước ngoài đánh chiếm thì hải quân đánh bộ phải lấy lại được đảo, không lực lượng nào có thể thay thế.

Năm là: Tàu mặt nước

Tàu Gepard 3.9 của Việt Nam được thiết kế thực hiện các nhiệm vụ chống tàu ngầm, tàu nổi và các mục tiêu trên không của địch khi thực hiện các nhiệm vụ hộ tống tàu chiến, tàu vận tải, các đoàn tàu cơ động, tiến hành các nhiệm vụ cảnh giới biển, bảo vệ hải giới và thềm lục địa, bảo vệ các khu vực kinh tế biển và bảo vệ các khu vực biển gần.

Câu 10: Cảm nghĩ của đồng chí (anh, chị) về biển, đảo Tổ quốc và người chiến sĩ Hải quân (bằng văn xuôi, truyện, ký, thơ, ca, video clip…), không quá 2.000 từ?

*Trả lời:

Có thể nói rằng cuộc sống của các anh chiến sĩ Hải quân thiếu thốn vật chất, ở nơi cách đất liền hàng nghìn km thì thứ quý nhất là nước ngọt. Nhiều khi mình thắc mắc không hiểu vì sao các anh lại chọn làm lính đảo? Điều gì thôi thúc các anh đến nơi xa xôi và đầy hiểm nguy ấy? Có chăng là lòng yêu nước thiết tha mà nồng cháy của các anh? Và nếu không có những trái tim yêu nước như các anh thì làm sao bên dải đất liền có thể sống bình yên như vậy dẫu biết các anh rất thiếu thốn về vật chất nhưng lại giàu có về tình cảm và tinh thần.

“Tôi đang nghe Tổ quốc gọi tên mình bằng tiếng sóng Hoàng Sa, Trường Sa dội vào ghềnh đá”. Câu hát luôn văng vẳng bên tai mỗi khi được nghe các ca sĩ thể hiện qua đài, ti vi hay vào dịp ngày hội ngày lễ mà họ thể hiện trên sân khấu trên mỗi miền quê, biển đảo quê hương luôn là một phần máu thịt không thể tách rời trong tim mỗi người dân đất Việt. Biển đảo chính là một món quà vô giá mà thiên nhiên ưu đãi, lịch sử hào hùng trao tặng chúng ta. Chính trên vùng mênh mông đại dương bao la, nơi cột mốc chủ quyền sừng sững như chứng nhân của lịch sử đầy “máu và hoa”, luôn có những con người vẫn ngày đêm canh giữ cho quê hương giấc ngủ yên bình.

Chính tại nơi đầu sóng ngọn gió luôn có lá cờ Tổ quốc tung bay đó là nơi những trái tim đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, của đông đảo các thế hệ Việt Nam hướng về với lòng thành kính, yêu thương và biết ơn vô hạn. Qua các bài giảng cũng như qua sách báo, ti vi, mình cũng đã hiểu rất nhiều về nhiệm vụ cao cả và sự hi sinh thầm lặng của các chú cho Tổ quốc, sinh sống ở đất liền, nỗi băn khoăn là ở nơi xa ấy, cuộc sống của các anh như thế nào? Nói vậy mình vẫn có ước mong có một ngày được đặt chân ra đảo để hỏi thăm các anh nhưng mà dường như là một ước mơ thật quá là xa vời.

Ngày nay được sống trong hoà bình, hơn ai hết mọi người đều hiểu rằng: " Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên" cả, vì vậy các anh vẫn phải ngày đêm cầm chắc tay súng bảo vệ vững bền chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc. Theo mình được biết thì hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện những kế hoạch leo thang tại Biển Đông. Mình cũng như tất cả mọi người luôn mong muốn đất nước chúng ta luôn giữ toàn vẹn chủ quyền biển đảo, mong nuốn đát nước chúng ta ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa, ước mong ấy không phải chỉ riêng ai và các anh chính là nơi để các bạn trẻ Phú Thọ nói chung và Thanh Sơn nói riêng gửi gắm niềm tin khát vọng.Trong lúc này, khi những người dân ở đất liền chúng tôi đang yên ổn, hạnh phúc cùng gia đình thì các chiến sĩ cảnh sát biển, kiểm ngư và bà con ngư dân đang trụ lại ngoài khơi xa chiến đấu dù mang trong lòng niềm nhớ nhung gia đình da diết. Nhưng chúng tôi không một ai quên các anh. Giờ nghĩ lại mới thấy nhiều lúc tôi chỉ biết than vãn một cách ích kỷ, nhưng những nỗi khổ đó có đáng gì so với các anh. Hạnh phúc, bình yên mà chúng tôi đang được hưởng, cũng là do mồ hôi xương máu của các anh đem lại. Càng hiểu về các chiến sĩ, kiểm ngư và bà con ngư dân, càng thêm yêu biển hơn, yêu Tổ quốc hơn. Cuộc sống của họ hòa vào màu thiên thanh của trời, màu thăm thẳm của đại dương bao la. Nơi ấy mưa gió bão táp có thể bủa vây bất cứ lúc nào, những con tàu thường xuyên chao đảo giữa sức mạnh của thiên nhiên nhưng anh em ngư dân đâu hề nao núng, vẫn một lòng thức đêm trực ngày, một lòng sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng.

Từ cái sự cảm phục đó, từ nơi hậu phương đất liền trường đã tổ chức rất nhiều hoạt động thiết thực để thi đua chào mừng ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, được nghe kể nhiều về ý nghĩa ngày 22-12 được tìm hiều về nhân dân Việt Nam nói chung và của các chú nói riêng...

Là một người giáo viên mầm non tôi nhận thức được rằng lứa tuổi mầm non là lứa tuổi ngây thơ, trong sáng như những tờ giấy trắng vậy, tôi nghĩ thật tự hào biết bao được truyền thụ cho con những bài thơ bài hát về chú bộ đội:

Em yêu chú bộ đội

Canh giữ nơi đảo xa

Biển gầm vang dữ dội

Vẫn vang lừng tiếng ca

Em thương chú bộ đội

Canh giữ nơi đảo xa

Dù phong ba bão táp

Tiếng hát càng vang xa

Nhớ em nhớ

Thương em thương

Vì non sông đất nước

Nên chú phải xa nhà

Không những là một bài thơ hay mà còn được phổ nhạc thành bài hát cũng rất tình cảm nữa, bài thơ của người lính dù mộc mạc nhưng đã bày tỏ tình yêu vô bờ bến với nhân dân, với Tổ quốc, với đồng đội. Bên cạnh đó những giờ phát triển thẩm mỹ mình cho trẻ làm “quà tặng chú bộ đội” bằng những vật dụng quen thuộc rất dễ thương từ thiên nhiên: Vỏ cây, cành, lá, đan tết tạo thành vật dụng rất đáng yêu, hay tô màu tranh với chủ đề “Biển đảo quê hương”

Vậy đó, biển đảo Tổ quốc là việc lớn, nhưng trước khi nghĩ đến chuyện lớn lao thì mỗi người chúng ta phải bắt đầu từ những việc nhỏ của bản thân. Chính sự vô ý thức của một bộ phận không nhỏ các bạn trẻ đã làm xấu đi hình ảnh biển đảo và con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Nhưng ở đây mình muốn nói đến ý thức của chúng ta trên chính các bãi biển trên đất liên. Ở một số bãi biển như Sầm Sơn, Cửa Lò…, rác vẫn được xả thẳng xuống môi trường. Bãi biển biến thành một bãi rác khổng lồ, gây ô nhiễm môi trường. Điều đáng nói là các bạn trẻ lại chiếm phần lớn trong lực lượng xả rác đó. Họ xả rác theo thói quen, tiện tay vứt rác trong sự vô thức của bản thân, trong khi họ rất yêu nước, một lòng hướng về biển đảo quê hương.

Cuối cùng, mình muốn gửi tới tất cả mọi người một thông điệp bất kể dân tộc,

tuổi tác, giới tính, tôn giáo, hãy cùng nhau hình thành một khái niệm mới là “Văn hóa bảo vệ biển đảo”, hãy làm nó lan tỏa trong cộng đồng và cho cả bạn bè thế giới.

Và điều đặc biệt hơn thông qua cuộc thi tìm hiểu “Biển, đảo Tổ quốc và truyền thống 65 năm Hải quân nhân dân Việt Nam” tôi càng thấm nhuần hơn lời Bác Hồ đã từng căn dặn: “Ngày xưa ta có đêm, có rừng. Ngày nay ta có ngày,có trời, có biển. Bờ biển nước ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn và phát huy nó”. Mỗi người thể hiện tình yêu nước, yêu biển - đảo khác nhau nhưng với tất cả đều thể hiện tình cảm mãnh liệt ấy bằng nhiệt huyết của trái tim và lòng nhân ái. Hãy yêu nước bằng một trái tim nóng, cái đầu lạnh và những hành động thực tiễn góp phần bảo vệ biển đảo như: Học tập nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc để tìm ra phương thức bảo vệ chủ quyền một cách hữu hiệu; Xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ tổ quốc; Tích cực học tập kiến thức quốc phòng, an ninh, sẵn sàng nhận và hoàn thành các nhiệm vụ quốc phòng. Tích cực tham gia các phong trào của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, phong trào mùa hè xanh, phong trào thanh niên tình nguyện hướng đến vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.